Có một dạo, trong một bận ngồi ăn uống đàm đạo cùng những người anh em thân thiết, mình có nhắc đến 4 chữ do người thầy từ vô thức gợi ý (và mình dự định sẽ lấy 4 chữ này đặt tên cho môn phái).
Bốn chữ này là Thập Nhị Huyền Không (十二玄空), trong đó Huyền Không nghĩa là sự trống rỗng huyền bí, như là hư vô (虛無).
Thập Nhị Huyền Không có nghĩa là "mười hai điều bí ẩn không thể diễn tả được bằng ngôn từ" mà chỉ có thể hiểu được thông qua kinh nghiệm trực tiếp việc nhìn thấy sự thật từ bên trong mình (trực giác).
Từ bốn chữ này thì mình đặt tên cho pháp thiền của mình là Thập Nhị Huyền Thăng Quyết.
Và Thập Nhị Huyền Thăng Quyết là phương pháp thiền định do mình chế ra từ việc tổng hợp thông tin, kiến thức, kinh nghiệm từ nhiều nguồn khác nhau. Một phần của nó lấy từ bài kinh Tứ Niệm Xứ của Phật giáo.
Bài kinh Tứ niệm xứ như sau:
Tôi nghe như vầy.
Một thời Ðức Phật ở xứ Kuru tại trấn Kammāsadhamma.
Tại đấy Đức Phật dạy các Tỳ Kheo:
"Này các Tỳ Kheo, đây là con đường đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt khỏi phiền não, tiêu trừ âu lo, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Ðó là bốn niệm xứ.
Bốn niệm xứ ấy là gì?
Này các Tỳ Kheo, người tu tập lấy thân quán thân với tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục ham muốn âu lo.
Người tu tập lấy thọ quán thọ với tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục ham muốn âu lo.
Người tu tập lấy tâm quán tâm với tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục ham muốn âu lo.
Người tu tập lấy pháp quán pháp với tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục ham muốn âu lo.
Này các Tỳ Kheo, thế nào là lấy thân quán thân?
Này các Tỳ Kheo, người tu tập đi vào rừng vắng, hay dưới cội cây hoặc nơi nhà trống, ngồi kiết già với lưng thẳng, hướng sự chú ý ngay trước mặt. Vị ấy hít vô, thở ra với sự tỉnh thức.
Khi hít vô dài vị ấy sáng suốt nhận biết: đang hít vô dài; khi thở ra dài vị ấy sáng suốt nhận biết: đang thở ra dài.
Khi hít vô ngắn vị ấy sáng suốt nhận biết: đang hít vô ngắn; khi thở ra ngắn vị ấy sáng suốt nhận biết: đang thở ra ngắn.
Vị ấy tập: cảm giác toàn thân tôi sẽ hít vô; vị ấy tập: cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra.
Vị ấy tập: an tịnh toàn thân tôi sẽ hít vô; vị ấy tập: an tịnh toàn thân tôi sẽ thở ra.
Như người thợ tiện thành thạo khi quay dài hay ngắn đều biết rõ, người tu tập cũng vậy.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập khi đi, sáng suốt ghi nhận: đang đi; khi đứng, sáng suốt ghi nhận: đang đứng; khi ngồi, sáng suốt ghi nhận: đang ngồi; khi nằm, sáng suốt ghi nhận: đang nằm. Thân thể trong tư thế ra sao biết rõ như thế.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mặc áo hoặc khi mang bát, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập quán sát thân này từ bàn chân đến ngọn tóc. Toàn thân bao bọc bởi da, chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau.
Trong thân này gồm: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, não, dạ dày, lá lách, ruột già, phổi, bàng quang, thận, ruột non, tim, mật, gan, tụy, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước tiểu, phân, thực phẩm chưa tiêu.
Này các Tỳ Kheo, ví như một người có mắt mở ra bao đựng các thứ hạt có thể phân biệt rõ: đây là gạo, đây là lúa, đây là đậu, đây là mè. Tương tự như vậy, người tu tập quán sát thân này chứa đựng những thứ bất tịnh khác nhau.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập quán sát về vị trí và sự sắp đặt của tứ đại. Vị ấy chánh niệm: trong thân này có địa đại, thủy đại, hoả đại và phong đại. Như một người đồ tể rành nghề có thể phân một con bò thành từng phần riêng biệt, người tu tập có thể nhận rõ vị trí của tứ đại trong thân này.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập nhìn thấy một tử thi quăng bỏ trong bãi tha ma một ngày, hai ngày, ba ngày trong trạng thái căng phồng, biến thành màu xanh đen, nát thối. Vị ấy quán: thân này tự tính là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài tính chất ấy.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập nhìn thấy một tử thi quăng bỏ trong bãi tha ma bị các loài cầm thú, quạ, diều hâu, kền kền, chó, giả can hay côn trùng đục khoét để ăn. Vị ấy quán: thân này tự tính là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài tính chất ấy.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập nhìn thấy một tử thi quăng bỏ trong bãi tha ma chỉ còn là một bộ xương với chút ít máu thịt còn sót lại với các sợi gân còn kết nối; hoặc một bộ xương không còn thịt còn chút máu được các sợi gân kết nối; hoặc một bộ xương không còn máu thịt, không còn các sợi gân kết nối; hoặc rải rác từng phần xương tay, xương chân, xương ống, xương đùi, xương mông, xương sống, sọ đầu. Vị ấy quán: thân này tự tính là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài tính chất ấy.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập nhìn thấy một tử thi quăng bỏ trong bãi tha ma chỉ toàn xương trắng màu vỏ ốc, hoặc đã biến dạng theo thời gian vài ba năm, hoặc mục nát thành bột. Vị ấy quán: thân này tự tính là vậy, bản chất là vậy, không thể vượt ngoài tính chất ấy.
Như vậy vị ấy quán thân bằng nội thân hay ngoại thân hoặc cả hai. Vị ấy quán tính sinh khởi trên thân, quán tính hoại diệt trên thân hoặc cả hai tính sinh diệt trên thân.
Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của thân với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời.
Này các Tỳ Kheo, như vậy là người tu tập lấy thân quán thân.
Này các Tỳ Kheo, thế nào là lấy thọ quán thọ?
Này các Tỳ Kheo, người tu tập khi cảm thọ lạc, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc; khi cảm thọ khổ, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ; khi cảm thọ không lạc không khổ, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ.
Khi cảm thọ lạc thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc thuộc vật chất. Khi cảm thọ lạc không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ lạc không thuộc vật chất.
Khi cảm thọ khổ thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ thuộc vật chất. Khi cảm thọ khổ không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ khổ không thuộc vật chất.
Khi cảm thọ không lạc không khổ thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ thuộc vật chất; khi cảm thọ không lạc không khổ không thuộc vật chất, sáng suốt biết rõ: cảm thọ không lạc không khổ không thuộc vật chất.
Như vậy vị ấy quán thọ bằng nội thọ hay ngoại thọ hoặc cả hai. Vị ấy quán tính sinh khởi trên thọ, quán tính hoại diệt trên thọ hoặc cả hai tính sinh diệt trên thọ.
Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của thọ với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời.
Này các Tỳ Kheo, như vậy là người tu tập lấy thọ quán thọ.
Này các Tỳ Kheo, thế nào là lấy tâm quán tâm?
Này các Tỳ Kheo, người tu tập khi ham muốn, biết rõ: tâm ham muốn. Khi sân hận, biết rõ: tâm sân hận. Khi si mê, biết rõ: tâm si mê.
Khi tâm thâu nhiếp, biết rõ: tâm thâu nhiếp. Khi tâm tán loạn, biết rõ: tâm tán loạn.
Khi tâm quảng đại, biết rõ: tâm quảng đại. Khi tâm hạn hẹp, biết rõ: tâm hạn hẹp. Khi tâm cao thượng, biết rõ: tâm cao thượng.
Khi tâm tập chú, biết rõ: tâm tập chú. Khi tâm không định, biết rõ: tâm không định.
Khi tâm giải thoát, biết rõ: tâm giải thoát. Khi tâm ràng buộc, biết rõ: tâm ràng buộc.
Như vậy vị ấy quán tâm bằng nội tâm hay ngoại tâm hoặc cả hai. Vị ấy quán tính sinh khởi trên tâm, quán tính hoại diệt trên tâm hoặc cả hai tính sinh diệt trên tâm.
Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của tâm với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời.
Này các Tỳ Kheo, như vậy là người tu tập lấy tâm quán tâm.
Này các Tỳ Kheo, thế nào là lấy pháp quán pháp?
Này các Tỳ Kheo, người tu tập quán pháp qua năm chướng ngại.
Khi tâm có ham muốn, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm có ham muốn; tâm không có ham muốn, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm không có ham muốn.
Với sự ham muốn vốn không có nay sinh khởi, vị ấy biết rõ. Với sự ham muốn đã sinh khởi nay đoạn diệt, vị ấy biết rõ. Với sự ham muốn đã đoạn diệt tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy biết rõ.
Khi tâm có sân hận, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm có sân hận; tâm không có sân hận, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm không có sân hận.
Với sự sân hận vốn không có nay sinh khởi, vị ấy biết rõ. Với sự sân hận đã sinh khởi nay đoạn diệt, vị ấy biết rõ. Với sự sân hận đã đoạn diệt tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy biết rõ.
Khi tâm có hôn trầm thụy miên, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm có hôn trầm thụy miên; tâm không có hôn trầm thụy miên, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm không có hôn trầm thụy miên.
Với sự hôn trầm thụy miên vốn không có nay sinh khởi, vị ấy biết rõ. Với sự hôn trầm thụy miên đã sinh khởi nay đoạn diệt, vị ấy biết rõ. Với sự hôn trầm thụy miên đã đoạn diệt tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy biết rõ.
Khi tâm có loạn động, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm có loạn động; tâm không có loạn động, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm không có loạn động.
Với sự loạn động vốn không có nay sinh khởi, vị ấy biết rõ. Với sự loạn động đã sinh khởi nay đoạn diệt, vị ấy biết rõ. Với sự loạn động đã đoạn diệt tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy biết rõ.
Khi tâm có nghi hoặc, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm có nghi hoặc; tâm không có nghi hoặc, vị ấy sáng suốt biết rõ: nội tâm không có nghi hoặc.
Với sự nghi hoặc vốn không có nay sinh khởi, vị ấy biết rõ. Với sự nghi hoặc đã sinh khởi nay đoạn diệt, vị ấy biết rõ. Với sự nghi hoặc đã đoạn diệt tương lai không sinh khởi nữa, vị ấy biết rõ. Như vậy là người tu tập quán pháp qua năm chướng ngại.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập quán pháp qua năm thủ uẩn.
Vị ấy quán sát: đây là sắc, đây là tập khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ, đây là tập khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ; đây là tưởng, đây là tập khởi của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng; đây là hành, đây là tập khởi của hành, đây là sự đoạn diệt của hành; đây là thức, đây là tập khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức. Như vậy là người tu tập quán pháp qua năm thủ uẩn.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập quán pháp qua sáu nội và ngoại xứ.
Vị ấy sáng suốt biết rõ: do duyên hai thành tố mắt và cảnh sắc, kiết sử sinh khởi. Do duyên hai thành tố tai và âm thanh, kiết sử sinh khởi. Do duyên hai thành tố mũi và mùi hương, kiết sử sinh khởi. Do duyên hai thành tố lưỡi và các vị, kiết sử sinh khởi. Do duyên hai thành tố thân và cảnh xúc, kiết sử sinh khởi. Do duyên hai thành tố ý và cảnh pháp, kiết sử sinh khởi.
Với kiết sử chưa sinh nay sinh khởi, vị ấy sáng suốt biết rõ. Với kiết sử đã sinh nay đoạn diệt, vị ấy sáng suốt biết rõ. Với kiết sử đã đoạn diệt tương lai không sinh khởi, vị ấy sáng suốt biết rõ. Như vậy là người tu tập quán pháp qua sáu nội và ngoại xứ.
Lại nữa, Này các Tỳ Kheo, người tu tập quán pháp qua bảy giác chi.
Này các Tỳ Kheo, khi tâm có niệm giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có niệm giác chi; khi tâm có trạch pháp giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có trạch pháp giác chi; khi tâm có tinh tấn giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có tinh tấn giác chi; khi tâm có hỷ giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có hỷ giác chi; khi tâm có tịnh giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có tịnh giác chi; khi tâm có định giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có định giác chi; khi tâm có xả giác chi vị ấy biết rõ: nội tâm có xả giác chi.
Với các giác chi vốn không có nay sinh khởi, vị ấy sáng suốt biết rõ. Với các giác chi đã sinh nay được viên thành, vị ấy sáng suốt biết rõ. Như vậy là người tu tập quán pháp qua bảy giác chi.
Lại nữa, này các Tỳ Kheo, người tu tập quán pháp qua bốn thánh đế.
Này các Tỳ Kheo, người tu tập sáng suốt biết rõ đây là khổ; sáng suốt biết rõ đây là nhân sinh khổ; sáng suốt biết rõ đây là sự chấm dứt khổ; sáng suốt biết rõ đây là con đường dẫn đến diệt khổ. Như vậy vị ấy quán pháp bằng pháp.
Vị ấy quán tính sinh khởi trên pháp, quán tính hoại diệt trên pháp hoặc cả hai tính sinh diệt trên pháp. Vị ấy quán niệm sự hiện hữu của pháp với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Vị ấy không ỷ lại, chấp trước bất cứ vật gì ở đời.
Này các Tỳ Kheo, như vậy là người tu tập lấy pháp quán pháp.
Này các Tỳ Kheo, người nào tu tập bốn niệm xứ trong bảy năm như vậy có thể chứng một trong hai quả ngay trong đời hiện tại: một là Vô Lậu Chánh Trí, nếu không thì là quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo, không nhất thiết phải tu tập đến bảy năm, một người có thể chứng quả trong thời gian tu tập bốn niệm xứ trong sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm hoặc bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, nửa tháng thậm chí bảy ngày có thể chứng đắc một trong hai quả Vô Lậu Chánh Trí hoặc quả Bất Hoàn."
Ðức Phật thuyết giảng như vậy, các Tỳ Kheo hoan hỷ tín thọ lời Ngài.
